Huỳnh Tỳ - mãi mãi là ‘nhị ca’

Tứ đại thiên vương Sài Gòn: Huỳnh Tỳ - mãi mãi là ‘nhị ca’

Xuất bản: 11:34, Thứ Hai, 02/04/2012
.
.

Trong thế giới du đãng Sài Gòn trước năm 1975, thứ bậc được phân định khá rõ ràng. Bộ tứ thống lĩnh thế giới giang hồ Sài Gòn khi ấy được đặt cho cái tên khá mỹ miều là “Tứ đại thiên vương”, gồm 4 tên trùm du đãng được xếp theo thứ tự là Đại – Tỳ - Cái – Thế (tức Lê Văn Đại (Đại Cathay) – Huỳnh Tỳ - Ngô Văn Cái – Nguyễn Kế Thế (Ba Thế)).

Đại Cathay không có đối thủ, nên tất cả du đãng Sài Gòn đều phong là “đại ca”. Theo thứ bậc thì Huỳnh Tỳ là “nhị ca”, thế nhưng dân giang hồ Sài Gòn khi ấy không thật sự nể phục Huỳnh Tỳ.

Sau ngày giải phóng, trong khi nhiều “anh chị” đã chết, thân tàn ma dại vì ma túy và bệnh tật, thì Huỳnh Tỳ vẫn “gượng” lại được, trở thành “đồ đệ” của Năm Cam, mặc dù trước giải phóng là đàn anh của Năm Cam. Cái số của Huỳnh Tỳ mãi mãi chỉ là “nhị ca”.

Thư sinh trở thành trùm du đãng

“Nhị ca” Huỳnh Tỳ tên thật là Nguyễn Thuận Lai, sinh năm 1944 tại quận 1, Sài Gòn. Huỳnh Tỳ là trường hợp trùm du đãng hiếm hoi không xuất thân từ trẻ bụi đời, thất học, sống lang thang trên đường phố.

Huỳnh Tỳ vào thập niên 1960.
Huỳnh Tỳ vào thập niên 1960.

Huỳnh Tỳ có gia đình yên ấm, được cha mẹ cho học hành đàng hoàng, thậm chí còn học cao nữa là khác. Thời đó, vào thập niên 1950, không phải gia đình nào cũng có thể cho con học tới trung học.

Vậy mà Nguyễn Thuận Lai lại được cắp sách đến trường cho đến hết lớp đệ tam (lớp 10 hiện nay). Thầy và trò Trường Trung học Nguyễn Bá Tòng (quận 1, Sài Gòn) vẫn chưa quên hình ảnh một cậu học sinh hiền lành, chăm chỉ, học giỏi đều các môn, đặc biệt yêu thích thơ văn, nhất là dòng thơ “tiền chiến” (sau này gọi là “thơ mới”).

Trong khi nhiều học sinh khác thích “phá cách”, đầu tóc để dài, ăn mặc “hippy”, áo bỏ ngoài quần, thì Nguyễn Thuận Lai luôn chỉnh tề trong bộ đồng phục áo bỏ trong quần, chân mang giày bata, tóc tai gọn gàng.

Năm 1960, Thuận Lai học hết đệ tam, gia đình muốn cậu học tiếp để làm “thầy bà”, nhưng thấy cha mẹ làm lụng vất vả nuôi con ăn học, nhất là để các em được tiếp tục học lên cao, Thuận Lai đã lưu luyến rời mái trường để lao vào cuộc mưu sinh phụ giúp gia đình.

Lúc ấy cha của Thuận Lai làm nghề lái xe đò đường dài tuyến Sài Gòn - Nha Trang – Pleiku, vì vậy mà ông đem theo đứa con thư sinh hiền lành để tập cho nó nghề lơ xe (phụ xế).

Nghề lơ xe thời nào cũng vậy, luôn tiếp xúc với những người buôn bán, phải va chạm với đủ mọi thành phần trong xã hội. Tính tình “thư sinh” của Thuận Lai hoàn toàn không hợp với nghề này, nhiều lần anh bị hành khách ăn hiếp, tức muốn khóc, may nhờ có cha can thiệp.

Để rồi chẳng bao lâu, chính nghề lơ xe đường dài phức tạp đã tập cho cậu học trò hiền lành Thuận Lai trở thành tay “anh chị” trên tuyến đường. Hành khách chẳng những không còn có thể ăn hiếp cậu lơ xe mặt còn búng ra sữa, mà trái lại họ phải sợ tính “quái” của cậu.

Tiếp thu nhanh ngõ ngách nghề đi xe đường dài từ cha, cộng với trình độ học vấn khá, Thuận Lai dần trở thành tay lơ xe bản lĩnh nhất, bọn lơ xe trên tuyến đường phải nể mặt chiếc xe do cha con Thuận Lai điều khiển.

Đi xe đò đường dài, chuyện tranh giành khách giữa các xe, rồi “câu giờ” để rước thêm khách... xảy ra như cơm bữa. Các tài xế và lơ xe thường giải quyết nhau theo luật giang hồ, ai mạnh thì thắng, ai yếu phải chịu lép vế.

Thuận Lai từ một cậu bé thư sinh đã trở thành tay “anh chị” sẵn sàng tỉ thí với các lơ xe khác để giành khách, thậm chí trên xe của anh lúc nào cũng có “đồ chơi” là các loại vũ khí thô sơ để sẵn sàng chiến đấu.

Hai năm làm lơ xe đường dài đủ để cho Thuận Lai từ cậu học trò hiền lành trở thành tay anh chị. Do cha bị bệnh không tiếp tục theo nghề lái xe đường dài, Thuận Lai cũng chấm dứt cảnh rong ruổi trên đường, trở về quận 1 tìm kế mưu sinh.

Thế nhưng, cái máu “lơ xe” ngang tàng, phóng túng đã không giúp cho Thuận Lai kiếm được nghề nghiệp gì ổn định ở giữa trung tâm thành phố. Thời ấy ở đường Lê Lai, quận 1 có một rạp hát nổi tiếng tên là Aristo.

Từ năm 1955, gánh hát Kim Chung của ông bầu Long di cư từ Hà Nội vào Sài Gòn đã lấy rạp Aristo làm “hậu cứ”, làm cho nơi đây trở lên phức tạp chứ không yên ắng như trước.

Ăn theo gánh hát, nhiều quán ăn, quán nước trên đường Lê Lai và những con đường chung quanh như Gia Long (nay là Lý Tự Trọng), Nguyễn Văn Tráng (nơi gia đình Thuận Lai sinh sống) mọc lên như nấm.

Các hàng quán mọc lên, rồi người xem hát thường xuyên lui tới đã làm cho khu vực này trở nên náo nhiệt, đồng thời cũng kéo theo không ít dân trộm cắp, móc túi, trẻ bán báo, đánh giày từ các nơi tìm đến làm ăn.

Khu vực này lại nằm giữa một bên là chợ Bến Thành, một bên là ga xe lửa Sài Gòn, vì vậy mà sự náo nhiệt, phức tạp càng tăng lên theo đà sôi động của khu chợ và nhà ga.

Bọn cướp giật, móc túi, lưu manh mỗi lần thực hiện “phi vụ” ở chợ Bến Thành hoặc ngoài nhà ga thường chạy ngay về khu vực này để trốn tránh và tiêu thụ hàng cướp giật, làm cho khu tam giác Lê Lai - Nguyễn Văn Tráng - Gia Long nhanh chóng trở thành mảnh đất màu mỡ để hứng hàng ăn cắp, móc túi bán giá rẻ.

Từ đó mà nơi đây cũng ra đời các loại dịch vụ cho giới lưu manh trộm cắp như sòng bài, động chích, tiệm hút, đĩ điếm... Anh chàng thanh niên có 2 năm “chính chiến” trên đường dài miền Trung bằng nghề lơ xe, giờ trở về khu vực Lê Lai đã tỏ rõ sự hơn trội so với băng “tép riu” chưa đi khỏi đít ông Táo.

Thuận Lai đã cùng với 2 tay anh chị khác tên Ngô Văn CáiNguyễn Kế Thế đứng ra nhận bảo kê toàn bộ các dịch vụ nhám nhúa này.

Bà con khu vực đường Nguyễn Văn Tráng đã ngỡ ngàng khi nhìn thấy cậu học trò hiền lành năm nào, sau thời gian đi lơ xe, giờ trở trong vị trí trùm du đãng, liên tục đánh đấm, chém lộn tưng bừng với các băng đảng khác.

Đã từng là “vua”

Ngoài Ngô Văn Cái và Nguyễn Kế Thế, dưới trướng Thuận Lai còn có nhiều đàn em khác như Cu Ba đen, Tâm vồ, Hùng phốc, Luân sún..., họ hợp thành một băng du đãng ngày càng chuyên nghiệp, làm khiếp sợ những người lương thiện trong vùng.

Lúc mới từ Hà Nội vào, bầu Long và gánh hát Kim Chung đã thu dụng một loạt các tay đao búa từng nổi tiếng một thời ngoài Hà Nội để làm chân bảo vệ. Thời ấy gánh hát nào cũng có lực lượng bảo vệ “đầu gấu” để đối phó với nạn côn đồ không chịu mua vé, chỉ chuyên phá phách các đào kép.

Đám bảo vệ đầu gấu của gánh hát Kim Chung gồm Sinh càn, Phúc đen, Tâm Ba tai... không chỉ giữ yên cho gánh hát, mà con hay tụ tập tại quán Kiều Chánh cạnh rạp Aristo để giương oai.

Nhiều trận hỗn chiến tóe lửa giữa nhóm của Thuận Lai với đám bảo vệ này đã xảy ra, cuối cùng phần thắng đã thuộc về Thuận Lai.

“Làm gỏi” được nhóm bảo vệ của bầu Long, Thuận Lai và đám chiến hữu kéo đến hỏi tội bầu Long và đập phá gánh hát Kim Chung, khiến cho đào kép phải sống trong âu lo, sợ hãi, nhiều đêm đoàn hát không thể kéo màn hát.

Để yên thân cho làm ăn, bầu Long đã hạ mình đến gặp Thuận Lai xin lỗi về chuyện “thất lễ” đã qua, rồi mời nguyên băng “cô hồn các đảng” này đến nhà hàng đãi tiệc, dàn hòa hai bên, rồi mời băng của Thuận Lai làm bảo kê cho gánh hát Kim Chung.

Từ đó, nhóm du thủ du thực từ Hà Nội vào phải chấp nhận dưới trướng của Thuận Lai, vì vậy mà thế lực của băng nhóm này cùng trở nên hùng mạnh.

Không chỉ đóng “thuế” cho Thuận Lai hàng tuần, mà bầu Long còn cắn răng chấp nhận cho băng đảng của Thuận Lai muốn ra vào rạp Aristo lúc nào tùy thích. Nhiều bữa cả băng mấy chục tên đi ăn nhậu ở đâu về, kéo đến rạp Aristo coi hát, ngồi chiễm chệ hết cả hàng ghế đầu, cười nói hô hố, ghẹo chọc các đào hát trên sân khấu...

Bầu Long rất bực mình nhưng cũng phải ngậm bồ hòn làm ngọt, đích thân ông phải lên ngồi bên Thuận Lai để lựa lời khuyên chúng không làm náo động rạp hát...

Cứ thế, băng du đãng Thuận Lai cứ mạnh dần, mở mang “bờ cõi”, từ khu vực tam giác Lê Lai – Nguyễn Văn Tráng – Gia Long mở dần ra khu chợ Bến Thành, khu ga xe lửa Sài Gòn,...

“Tam đầu chế” gồm 3 tên du đãng lì lợm là Thuận Lai, Ngô Văn Cái và Nguyễn Kế Thế nổi lên khắp khu vực trung tâm Sài Gòn, lan ra cả quận 1, chúng thường tụ tập nhậu bia rượu, bài bạc suốt ngày tại rạp hát Aristo, nên được giang hồ gọi luôn là băng Aristo.

Cách thức hoạt động của băng Aristo do Thuận Lai cầm đầu là cho đàn em đi quậy phá nhà hàng, quán ăn, doanh nghiệp nào đó trên địa bàn.

Xong Thuận Lai tới đặt vấn đề bảo kê để không bị bọn “cô hồn kia” quấy phá. Cứ vậy, dần dần hầu hết giới làm ăn, buôn bán trong khu vực đều trở thành “tá điền”, hàng tuần phải “nộp tô” cho băng nhóm Thuận Lai.

Lúc này, để trốn không đi lính, Thuận Lai phải làm giấy cho nhỏ tuổi, thay đổi họ tên, từ Nguyễn Thuận Lai thành Huỳnh Tỳ.

Cái tên Huỳnh Tỳ bắt đầu xuất hiện khoảng năm 1963 và nhanh chóng trở thành nỗi khiếp sợ đối với những người làm ăn lương thiện trên địa bàn trung tâm thành phố Sài Gòn.

Địa bàn hoạt động ngày càng mở rộng, để rồi cho tới một lúc băng của Huỳnh Tỳ đụng chạm tới lãnh địa của một băng du đãng cũng đang nổi lên ở quận 1 do Lê Văn Đại cầm đầu đang bảo kê khu vực chợ Cầu Ông Lãnh, cách đó chỉ gần 1  cây số.

Nhường “ngôi” cho Đại Cathay

Khoảng năm 1964, nhờ sự liều lĩnh của Lê Văn Đại, băng du đãng Đại Cathay đã thống lĩnh cả giới giang hồ quận 4, bắt đầu chồm sang làm ăn ở quận 1, mà đầu tiên là bảo kê cho các chủ dựa, chủ nhà hàng ở khu vực chợ Cầu Ông Lãnh.

Như vậy là lãnh địa của 2 băng du đãng khét tiếng ở Sài Gòn bắt đầu “chồng lấn” lên nhau, đã xảy ra một vài vụ đụng chạm giữa đàn em của Huỳnh Tỳ và các “đồ đệ” của Đại Cathay.

Lo sợ thế lực của băng Cathay sẽ tràn sang cả “thánh địa” Lê Lai của mình, Huỳnh Tỳ bàn với hai phó tướng là Ngô Văn Cái và Nguyễn Kế Thế tìm cách loại Đại Cathay ra khỏi thế giới giang hồ Sài Gòn.

Bọn chúng tính rằng, băng Đại Cathay mạnh là nhờ có Lê Văn Đại lì lợm và giỏi võ, nếu tiêu diệt được Đại thì băng Đại Cathay sẽ như rắn mất đầu, không còn đáng sợ.

Huỳnh Tỳ và đồng bọn bàn tính mãi, cuối cùng chọn cách bày tiệc trên lầu rạp hát Aristo, mời Đại Cathay tới gặp gỡ để thông cảm cho những va chạm đã qua của bọn đàn em.

Cho tới lúc ấy, giang hồ Sài Gòn vẫn đánh giá cao trình độ học vấn, những tên du đãng, tên cướp nào có học thức thường được giới giang hồ xem trọng hơn những tên thất học. Trong cách nhìn đó, Huỳnh Tỳ được đánh giá cao hơn nhờ học hành đàng hoàng, tới lớp đệ tam, so với Đại Cathay không viết nổi tên mình.

Thế nhưng, từ sau cuộc đụng độ giữa Huỳnh Tỳ và Đại Cathay, cách nhìn của giới giang hồ đã thay đổi, khi mà kẻ có học lại cư xử khá “vô học”, còn kẻ thất học lại chứng tỏ bản lĩnh của mình.

Được Huỳnh Tỳ gửi thư mời tới dự tiệc với lời lẽ trân trọng, với lại đây cũng là tay du đãng có tiếng là học hành đàng hoàng, nên Đại Cathay không mảy may nghi ngờ, một mình Đại tay không từ quận 4 đi sang quận 1, vào rạp hát Aristo, đi lên lầu, hắn không hề biết đang đi vào cửa tử.

Chỉ có sự may mắn và khả năng chịu đựng dao búa mới giúp cho Đại ra khỏi rạp Aristo còn sống sót, khi mà cả băng Huỳnh Tỳ với đủ thứ “đồ chơi” đã mai phục sẵn, đợi Đại vào rạp Aristo là giết chết.

Chưa lên hết cầu thang, Đại Cathay đã cảm thấy chột dạ khi mà nụ cười đón khách của Huỳnh Tỳ có cái gì đó thâm hiểm chứ không đường hoàng, trong sáng của kẻ có học. Chưa kịp chào hỏi, Đại Cathay bất ngờ bị Nguyễn Kế Thế đá lộn cổ xuống thang lầu.

Cùng lúc 4 tên du đãng giỏi võ nhất trong băng Huỳnh Tỳ được phân công sẵn xông ra chém Đại tới tấp.

Vừa tay không đỡ đòn, Đại vừa đánh trả để mở đường máu thoát ra ngoài cửa rạp. Khi lao được ra ngoài đường, thoát khỏi tử địa, mình mẩy của Đại đầy thương tích, máu me đầm đìa.

Băng của Huỳnh Tỳ ùa theo ra đường Lê Lai chém cho chết Đại Cathay, nhưng may mắn cho Đại khi tình cờ có một đàn em chạy chiếc Gobell ngang qua, đã lao thẳng xe máy vào Huỳnh Tỳ để cứu chủ tướng.

Huỳnh Tỳ và đồng bọn bất ngờ bị xe tông thẳng, đã buông dao để đối phó, cùng lúc Đại được đàn em cõng chạy nhanh về phía chợ cầu Ông Lãnh kêu đàn em tiếp cứu.

Không giết chết được Đại Cathay, băng nhóm Huỳnh Tỳ lui về chờ đợi cuộc trả thù đẫm máu. Đại bị chém trọng thương, nhưng không dám đi bệnh viện chữa trị, vì sợ băng của Huỳnh Tỳ truy sát, nên phải ở lại cứ địa quận 4 mướn bác sĩ đến chữa trị.

Khi những vết thương còn chưa kéo da non, Đại Cathay đã một mình lặng lẽ giắt dao đi sang quận 1 để giải quyết ân oán giang hồ. Đàn em đòi đi theo, Đại kiên quyết không cho, vì đây là chuyện cá nhân của Đại, để một mình Đại giải quyết.

Chính cách cư xử đầy bản lĩnh và anh hùng của Đại Cathay, so với cách đánh lén hèn hạ của Huỳnh Tỳ trước đó, đã làm cho Đại Cathay nổi lên như cồn sau vụ đụng độ này.

Đại nổi lên bao nhiêu thì Huỳnh Tỳ càng thất thế bấy nhiêu, cùng lúc là cái sự “thất học” của Đại cũng thắng thế so với chuyện “học hành đàng hoàng” của Huỳnh Tỳ.

Không biết bằng cách nào, mà cả 3 tên chủ tướng của băng Aristo là Huỳnh Tỳ, Ngô Văn Cái và Nguyễn Kế Thế đều lần lượt nhận đúng 1 nhát dao, Đại cố ý chém để thẹo suốt đời chứ không cho chết.

Đồng thời, Đại Cathay ra “tối hậu thư” buộc băng Aristo của Huỳnh Tỳ phải tự giải tán, nếu như Huỳnh Tỳ còn muốn sống.

Nhắm thế không thể đối đầu Đại Cathay, mà cũng thấy nhục trong giới giang hồ sau vụ đụng độ đầy tai tiếng này, Huỳnh Tỳ đành thay mặt cả băng bắn tiếng cầu hòa, xin gia nhập vào băng của Đại Cathay.

Không dễ dàng bỏ qua, Đại Cathay trả lời rằng cách hành xử của Huỳnh Tỳ và băng Aristo không xứng đáng tồn tại trong giới giang hồ, buộc phải giải tán.

Hoảng quá, Huỳnh Tỳ phải cậy nhờ bầu Long (chủ đoàn hát Kim Chung) đứng ra nhờ Tám Lâu, một đàn anh cũ của Đại Cathay nhờ giúp đỡ. Nể tình người đàn anh đã từng giúp Đại buổi ban đầu, Đại mới nguôi ngoai, chấp nhận cho Huỳnh Tỳ và cả băng Aristo đến dập đầu xin lỗi.

Lần này tiệc nhậu “giảng hòa” không phải ở rạp Aristo như trước, mà tổ chức ở một nhà hàng bên quận 4, cứ địa của Đại.

Huỳnh Tỳ đã quỳ trước mặt Đại nói những lời xin lỗi đáng thương nhất, để rồi sau đó băng Aristo vĩnh viễn bị xóa sổ, quân tướng của Aristo về qui phục dưới quyền sai phái của một đại ca duy nhất là Đại Cathay.

Cuộc hợp nhất giang hồ vào cuối năm 1964 đã xóa sổ cái tên Aristo, đẻ ra danh xưng “Tứ đại thiên vương” Đại-Tỳ-Cái-Thế, cùng với việc danh tiếng của Đại Cathay càng lừng danh gấp bội khắp thành phố Sài Gòn.

Huỳnh Tỳ tự an ủi mình với danh xưng “nhị ca” trong “tứ đại thiên vương”, tận tụy phò tá Đại Cathay và được Đại Cathay giao trông coi các sòng bài, tiệm hút trên địa bàn khu Lê Lai và khu Cầu Muối.

Đó cũng là thời hoàng kim của băng Đại Cathay, bởi chỉ chưa tới 2 năm sau, vào tháng 6 năm 1966 khi Đại Cathay bị bắt, băng Cathay tan rã.

Huỳnh Tỳ cũng không thể trở lại ngôi vị thủ lĩnh ngày nào, tuy vậy cũng tiếp tục có số má trong giới giang hồ Sài Gòn cho tới ngày miền Nam giải phóng.

Ân tình với Năm Cam

Huỳnh Tỳ lớn hơn Năm Cam 3 tuổi. Vào đầu thập niên 1960, khi Huỳnh Tỳ đã nổi danh trong “tứ đại thiên vương”, thì Năm Cam mới là tay giang hồ đàn em, chuyên bảo vệ cho các vũ trường. Chính Huỳnh Tỳ đã giúp Năm Cam thoát nạn trong một vụ thanh toán bằng súng ngay trong vũ trường.

Sau ngày giải phóng, cả Huỳnh Tỳ và Năm Cam và nhiều tên xã hội đen vằn vện khác vẫn không từ bỏ còn đường du đãng, tiếp tục quậy phá cuộc sống yên lành của người dân, vì vậy mà chúng lại vào tù ra khám.

Năm Cam dần dần củng cố thế lực, đến đầu thập niên 1990 trở thành ông trùm của xã hội đen ở TP.HCM.

Huỳnh Tỳ vốn nghiện nặng, thường xuyên đói thuốc, hoàn cảnh gia đình khó khăn khi vợ mất để lại cho Tỳ hai đứa con nhỏ dại. Không băng nhóm, không nghề nghiệp, Huỳnh Tỳ phải xoay sang mánh mung cò con như lắc bầu cua, chích dạo ma túy... để nuôi con và nuôi thân.

Chỉ trong vòng 20 năm (1975-1995), Huỳnh Tỳ phải ra vào trại cải tạo khoảng chục bận với những vi phạm nhỏ.
         
Đầu năm 1992, Huỳnh Tỳ liên kết với một số “chiến hữu” cũ tổ chức một sòng bạc tại một con hẻm trên đường Lê Lai, nơi cách đó 30 năm Huỳnh Tỳ là “chủ tướng” của băng Aristo lừng danh. Biết chuyện, Năm Cam ra lệnh Huỳnh Tỳ dẹp ngay, vì chỉ có Năm Cam mới có cái quyền mở sòng bạc ở Sài Gòn.

Huỳnh Tỳ không nghe, vẫn tiếp duy trì sòng bạc. Ngay lập tức, sòng bạc này liên tục bị khám xét liên tục, không con bạc nào dám đến chơi.

Biết là Năm Cam ra tay, Huỳnh Tỳ phải mang lễ vật đến mời Năm Cam hùn vốn danh nghĩa, sòng bạc tiếp tục hoạt động. Ngoài phần ăn chia theo tỉ lệ hùn hạp, mỗi tuần Huỳnh Tỳ phải mang đến nộp cho Năm Cam 5 triệu đồng tiền xâu.

Mối quan hệ hùn hạp này kéo dài đến cuối 1992 thì chấm dứt, khi mà tên tuổi của Năm Cam bị đưa lên một tờ báo ở Sài Gòn, các hoạt động bảo kê của Năm Cam cũng tạm chấm dứt.

Cho rằng Năm Cam sắp hết thời, Huỳnh Tỳ không chịu cống nộp tiếp. Đầu năm 1993, sòng bạc trong hẻm trên đường Lê Lai bị bắt quả tang, nhiều nhân viên của sòng phải tra tay vào còng.

Huỳnh Tỳ may mắn thoát được, nhưng hắn hiểu ngay đó là đòn trừng phạt của Năm Cam. Bị truy nã, Huỳnh Tỳ không còn con đường nào khác, lại phải đến tạ tội với Năm Cam xin nghĩ tới ân tình cũ mà cứu giúp.

Năm Cam lại dang tay đón nhận Huỳnh Tỳ, giao quản lý các sòng bạc khác ở quận 4, quận 8 và Biên Hòa. Tháng 9/1995, Năm Cam lại bị báo chí phanh phui, gay gắt hơn lần trước.

Lần này Huỳnh Tỳ lại trở mặt không nộp xâu nữa vì cho rằng thời của Năm Cam đã hết, không việc gì phải sợ sệt, cung phụng cho hắn. Quả thật, không lâu sau đó, Năm Cam bị bắt đi cải tạo.

Khi đi cải tạo về, Năm Cam rất giận “đàn anh” Huỳnh Tỳ dù là người có học mà sống không có trước có sau. Năm Cam đã cấm Huỳnh Tỳ bén mảng tới nhà và các sòng bạc của mình, xem như không còn ân nghĩa anh em gì nữa. Bị thất sủng, thế nhưng đó lại là điều may mắn cho Huỳnh Tỳ.

Bởi nếu được Năm Cam tha thứ, thu nạp lại một lần nữa, chắc hẳn sau đó Huỳnh Tỳ không thoát khỏi là bị cáo trong chuyên án “Năm Cam và đồng bọn”.

Đó là điều Huỳnh Tỳ hài lòng nhất trong những năm cuối đời. Cả một cuộc đời làm “nhị ca”, nhưng lúc cuối đời đã thoát khỏi danh xưng ảo đó để không phải cùng Năm Cam ra tòa trong một vụ án lớn nhất về xã hội đen từ sau ngày miền Nam giải phóng.

Theo Phunutoday

.
.
Tin mới nhất
Đi tù vì chế tạo súng bằng công nghệ in 3D
Không ai nhận trách nhiệm vụ nổ làm 3 người chết
Cha cắt gân tay sau khi siết cổ con 3 tuổi đến chết
Cuộc chiến cam go để trở thành tiếp viên hàng không
Giang hồ khét tiếng Sài Gòn chết đau đớn trong nồi cám heo
Cuộc sống thực sau buồng lái của phi công, tiếp viên Việt
Nữ tài xế xe 'điên' thừa nhận đạp nhầm chân ga
Điểm tin thế giới qua ảnh ngày 22/10
Thiếu nữ bị cưỡng hiếp 30 lần chỉ trong vài giờ
Chàng trai bị kẹt 'của quý' trên tàu điện ngầm
Góc chị em
.
.